Truy cập: 20,020,948 lượt

Ngược sông Rào Nậy

Cả đời chỉ biết viết báo, khoảng hai chục năm đầu, tôi đi cùng trời cuối đất. Cơ man con nước đã chảy vô lòng, chảy vô hồi ức, đủ để hiểu ra rằng dưới vòm trời không chỉ có mỗi một sông La (Hà Tĩnh) quê mẹ.

 


 

Tôi rời quê, bắt đầu những chuyến ruổi rong từ hồi bé tí. Tàu lửa đi ngang sông chi đó ở mạn Tây Quảng Bình, thấy sông chảy giữa núi non lô nhô, toàn núi đá vôi, trong văn vắt, nước lặng như tờ, thằng chọi con là tôi thích lắm. Bên này sông là làng quê heo hút phủ dày những hàng chè mạn hảo, những rào dâm bụt bao quanh mảnh vườn và những ngôi nhà nhỏ. Những bóng cau trầm mặc trong chiều phủ bóng, khói chiều yên bình vờn quanh chái bếp, đụn rơm. Thấp thoáng ngoài cửa sổ toa tàu, dòng sông ẩn hiện suốt một quãng dài…

Lớn lên, theo những chuyến tàu Bắc – Nam, tôi đi qua đi lại nơi đó nhiều lần. Từ phía Bắc vào, tôi phát hiện ra khi dòng sông bắt đầu rộng ra, giữa sông còn có một vài cù lao nhỏ xanh um với bờ cát trắng phau. Tôi không hiểu nổi trời sinh ra mấy cù lao đó để làm gì? Mặc kệ để làm gì, sông vẫn im lặng chảy. Còn tôi thì, kể với bạn thời đại học, vẫn đồ rằng đó chắc chắn là con sông đẹp nhất Việt Nam.

Lớn chút nữa, theo nghề viết lách, chân đã quen bạn với sông hồ, một lần vào mùa hè năm 1999, ruổi rong xe máy lên các bản người Rục Mo Ó Ồ Ồ, Rục Làn, Óc Sách (xã Thượng Hóa, Minh Hóa, Quảng Bình), tôi đã có dịp băng ngang dòng sông ấy lúc nửa đêm. Qua sông bằng phà kéo tời, khách giang hồ ướp mình trong sông đêm đen thẫm nhưng vẫn kịp nhận ra bờ cát của cù lao trắng phau phau đã từng thấy xa xa trên chuyến tàu đời thơ dại. Và biết tên của ký ức: sông Rào Nậy.

Chuyến phà đưa tôi sang sông cũng mang tên là phà Rào Nậy. Nó còn một tên khác gọi theo vùng đất: phà Sảo Phong, xã Phong Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình. Thật ra, theo đường 12A từ Ba Đồn lên miền Tây Quảng Bình, giờ có cầu nhưng ngày xưa thì phải qua những hai phà, đều vận hành bằng tời chạy mô – tơ, neo phà bằng một sợi dây cáp lớn vắt ngang dòng sông. Phà Sảo Phong là chuyến thứ hai. Trước đó, khách phải qua phà Minh Cầm, đoạn gần ga Lạc Sơn, băng ngang dòng Rào Trổ, một nguồn nước chảy từ Hà Tĩnh phía Đông ngược sang Tây, góp nước cùng Rào Nậy khiến dòng sông rộng ra.

Thật thú vị, trong tiếng Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, rào có nghĩa là sông nhỏ, là sông con đổ nước ra sông mẹ. Nậy thì lại có nghĩa là to, là lớn, là...trưởng thành. Dịch tiếng Nguồn (một nhóm người ở miền Tây Quảng Bình được xác định thuộc tộc người Mường nhưng có ngôn ngữ riêng) ra tiếng Kinh, dòng sông ấy có nghĩa là dòng sông nhỏ... lớn, hoặc là sông nhỏ trưởng thành.

Nghe hơi trúc trắc. Mà có khi thế thật, trúc trắc như đoạn sông lắm thác nhiều ghềnh, lòng sông lô nhô những bãi đá hầu như không thể lưu thông xuyên suốt bằng đường thủy.

Sông Rào Nậy, cũng được hợp lưu tích nước từ mấy rào con từ ngàn Giăng Màn, Mụ Giạ thuộc dãy Trường Sơn và từ phía Hoành Sơn đổ xuống. Nơi dòng sông phát tích là khu vực núi Cô Pi cao 2,017m thuộc dãy Trường Sơn. Thượng nguồn len lỏi qua núi non hiểm trở thuộc hai xã Dân Hóa, Trọng Hóa huyện Minh Hóa, nằm gần cửa khẩu Cha Lo, sát đất Khăm Muộn, nước bạn Lào. Từ đó, dòng sông khúc khủyu rót nước từ Tây Nam chảy sang Đông Bắc. Đến xã các Thanh Hóa, Thanh Thạch, thuộc huyện Tuyên Hóa, sông uốn đáy chữ V viết vụng, chảy ngược về hướng Đông Nam. Dòng sông phẳng lặng hơn, mải miết trôi. Đến Minh Cầm, xã Phong Hóa, huyện Tuyên Hóa, sông Rào Nậy nhận thêm nước Rào Trổ từ Hoành Sơn đổ xuống. Từ đây, sông thôi len lỏi, dòng sông bắt đầu rộng ra. Chỉ qua một khúc khuất nữa thôi, qua khỏi khu vực gần ga xép Lệ Sơn, đến lượt mình, nguồn Rào Nậy hóa thân thành sông Gianh, hoặc Linh Giang xuôi ra biển, góp dòng làm nên biên cương của hơn hai thế kỷ phân tranh Trịnh - Nguyễn (1570 -1786).

Phà Rào Nậy, chảy trong ký ức tôi là đoạn chảy nối hai bờ Quảng Trạch phía Đông và Tuyên Hóa phía Tây tỉnh Quảng Bình. Chỗ đó, bản đồ Việt Nam hẹp nhất, từ Tây sang Đông chừng 50km. Sông Gianh chỗ đó cũng hẹp, chỉ khoảng 70 m bề ngang. Hơn 200 năm, cả hai Chúa Trịnh – Nguyễn đều muốn dẫn đại quân thốc về bên kia sông để tiêu diệt đối thủ. Chẳng hiểu sao, sông Gianh giới tuyến lại được chọn ở phía đồng bằng, là Thị xã Ba Đồn bây giờ. Ở đó, hai bờ sông cách nhau hàng trăm mét, nước cuồn cuộn trôi, rõ là không thuận lợi chút nào cho việc hành quân của thiên binh vạn mã và hàng trăm thớt voi trận.

Mấy trăm năm lịch sử toát mồ hôi. Ngắm sông, trong óc tôi cứ lớn dần ý nghĩ, dường như lịch sử là một cuộc cờ cố ý đi sai. Nếu thật tâm muốn tiêu diệt nhau, hẳn các đời Chúa Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài sẽ thừa biết chọn nơi sông hẹp, dẫu ba trăm năm trước đoạn Minh Cầm hoặc Sảo Phong có thể vẫn chỉ là “hưu đạo tần quan chinh lộ hiểm” (thơ Trần Bích San). Nhưng lịch sử đã diễn ra mà không có chữ nếu. Dường như nhà Chúa của hai bên đều không quyết tâm lắm cho việc đánh nhau, đành chọn giới tuyến là nơi sông rộng, nước sâu để tự có nguyên cớ khó khăn, tránh bớt đao binh. Chỉ có 7 chiến dịch giao tranh trong suốt 236 năm tranh chấp. Lịch sử đã chọn dòng sông, đoạn khó vượt qua nhất để làm ranh giới chia cắt, phải chăng là để chờ ngay non sông tái hợp và thống nhất. Với tôi, có lẽ đó mãi là một tồn nghi đầy thương khó, ít nhất cũng để cho trang sử hàng trăm năm bớt cảnh đau lòng, anh em Nam - Bắc đỡ phần nồi da xáo thịt.

Đoạn Rào Nậy và Rào Trổ hợp nhau, cách đó không xa, phía bờ Tây, là đường sắt mà gần sông nhất là ga Lệ Sơn, nay thuộc xã Văn Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Bình. Chảy đi đâu thì chảy, đó vẫn là đoạn sông, con sông đẹp nhất mà tôi biết. Đừng cãi. Cách đó không xa lắm, làng Tân Hóa, huyện Minh Hóa đã được công nhận là làng du lịch đẹp nhất thế giới rồi đấy.

Đi đến nát nhừ đôi chân, say đắm đến mềm phế phủ (như câu thơ Tô Thùy Yên), tôi chợt nhận ra một điều thú vị nữa. Sông Gianh - Đại Linh Giang mà nguồn Rào Nậy là phần thượng lưu chiếm chiều dài lớn nhất, có lẽ là con sông duy nhất suốt dải miền Trung may mắn không bị chặt khúc, băm nhỏ để làm thủy điện. Dích dắc tuôn nước từ núi cao rừng thẳm đổ ra biển, khoảng 160 km, trên toàn con sông nội tỉnh dài nhất Việt Nam này không mọc lên một nhà máy thủy điện nào. Dòng sông vẫn vẹn nguyên triệu năm, lặng lẽ trôi qua nhưng biến thiên lịch sử.

Từ thượng nguồn về đến ngã ba Minh Cầm, đoạn sông Rào Nậy (sông Gianh) nào cũng có bóng dáng vua Hàm Nghi và đoàn xa giá những năm bôn tẩu. Mang theo ấn “Ngự tiền chi bảo” để tự tay đóng lên những tờ hịch Cần Vương, Hoàng đế bỏ ngai Hàm Nghi đã lưu lại gần trọn 3 năm (từ tháng 10/1885 đến tháng 9/1888) ở miền Tây Quảng Bình, trong phạm vi hai vùng Tuyên Hóa và Minh Hóa. Ngày 26-9-1888, tại khe Tá Bào, Tuyên Hóa, tên phản bội Trương Quang Ngọc đã dẫn binh giết sạch đoàn hộ giá, bắt Vua Hàm Nghi dâng cho giặc.

Cả hai cuốn “Đại Nam thực lục chính biên và “Quốc triều chính biên toát yếu” đều có những ghi nhận thống nhất. Phòng xa, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài, trước khi nổ ra cơn binh biến đánh đồn Mang Cá (Huế) bất thành vào ngày 6-7-1885, hai Phụ chánh Đại thần Tôn Thất Thuyết – Nguyễn Văn Tường đã cho xây đắp căn cứ Tân Sở (vùng Cùa, Cam Lộ, Quảng Trị), chuyển phần lớn Quốc khố và kho vũ khí từ Kinh Đô ra cất giấu. Theo dự định của Tôn Thất Thuyết, 1 triệu lượng (khoảng 33 tấn) vàng ròng, bạc nén sẽ được chuyển từ kho Phủ Nội vụ trong kinh thành Huế lên Tân Sở. Nhưng mới chuyển được 1/3, khoảng 11 tấn thì giao tranh với Pháp đã nổ ra nên phải tạm ngừng.

Khi bắt được vua Hàm Nghi, Trương Quang Ngọc rồi thực dân Pháp đều đã lục xét đào xới khắp bốn chung quanh nơi vua hạ trại hòng tìm cướp báu vật mang theo nhưng chỉ uổng công. Vàng kho bạc đụn đã tản mác hết sạch, hoặc đã được chôn giấu lưu lại trong dân gian, đắp thêm những huyền sử về ông Vua trẻ bất khuất yêu nước thương dân. Những xóm làng heo hút hai bên sông Rào Nậy, hàng trăm năm sau vẫn tiềm ẩn bao điều bí mật.

Ông Thái Xuân Bạ, nguyên Phó chánh án Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa thập niên 1980 - 1990 kể với tôi, vào những năm 1950, bố ông tham gia dân quân xã, đã từng được huy động đi thu gom “vàng Vua Hàm Nghi” do dân xã Trung Hóa phát hiện được. Tổng cộng có 3 nong phơi lúa tiền chữ “Đại” bằng vàng ròng, mỗi đồng nặng 12 chỉ được gom về sân nhà ông Bạ trước khi đem giao nộp cho chính quyền. Ông Bạ và một số trẻ con hàng xóm đã “nhón” đi mỗi đứa khoảng 10 đồng để dành... đánh đáo. Bạc vàng vương giả, có một thời cũng chỉ là đồ chơi đem lại niềm vui thơ dại của con trẻ nơi núi rừng heo hút. Đánh đáo bằng tiền cổ vàng ròng, mỗi đồng nặng 1,2 lượng, trẻ con xứ Trung Hóa heo hút, nghèo khó ấy ăn chơi sang trọng và xa xỉ nhất quả đất!

Ông Lê Ổn, nguyên đại tá Biên phòng về hưu sống tại TP Đồng Hới. Năm 1955, ông Ổn là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 229, Công an vũ trang, đóng quân tại Minh Hoá. Tình cờ, những người lính trong đơn vị ông đã phát hiện trên đỉnh núi Ka Ai có một vùng đất trống bằng phẳng, có 20 cây bưởi cổ thụ được trồng thành hình vòng tròn. Dò hỏi, phía biên phòng được một già bản – lúc đó đã trên dưới 90 tuổi - ở xã Thanh Lạng, cách đó không xa giải thích khá hợp lý. Khi già bản này còn là một thanh niên chưa đầy 20 tuổi, có một đợt gần ông cùng khoảng 30 trai tráng khác ở Thanh Lạng được huy động lên đỉnh Ka Ai... đào giếng. Nửa tháng sau, rất nhiều châu báu đã được đem lên giếng trên đỉnh núi chôn lấp. Công việc hoàn tất, ngay trong đêm, số thanh niên trai tráng này đều bị chém chết ngay tại chỗ. Bị thương, nhưng nhờ có xác 2 người khác đè lên nên già bản sau này may mắn được binh lính tưởng chết bỏ qua, không truy sát đến cùng. Đến gần sáng, ông mới tỉnh dậy và cố lết về được đến nhà. Quá khiếp hãi, gần suốt 70 sau ông vẫn không dám hé răng với bất kỳ ai về vụ việc. Chỉ khi ông Ổn và một số cán bộ tiểu đòan 229 gợi chuyện, vì tin chắc đã thoát vòng truy sát ông mới dám kể.

Tại thôn Đặng Hóa, xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, năm 1956, sau trận lụt lớn, người dân trong xã đã phát hiện và vớt được vô số tiền vàng từ một hốc đá trôi ra suối, thu được tổng cộng 214 kg, đem nộp lại toàn bộ cho nhà nước.

Gần hơn, giữa tháng 4-2003, một đám trẻ chăn trâu đã tình cờ phát hiện được tại hang Lèn, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa một chiếc tráp gỗ, bên ngoài khắc chữ Hán và hoa văn nhũ vàng rất đẹp. Khi được những em nhỏ này đưa xuống núi, chiếc tráp đã tự động mục rã ra. Bên trong tráp có một quả cau bằng kim loại màu đen, hai lư hương bằng đồng và 2 chìa khóa kiểu cổ. Một thanh niên trong làng đã lừa đám trẻ em này lấy mất quả cau màu đen (nghi chế tác bằng đồng đen). Hai lư hương và hai chiếc chìa khóa, Sở VH-TT Quảng Bình đã kịp thời thu giữ để giám định. Gần một năm sau, ngày 3/1/2004, trong khi đào đất trên ruộng, người dân Văn Hóa đã bất ngờ đào được hàng chục chum vại đựng đầy tiền cổ triều Nguyễn được chôn dưới một thửa ruộng, cách mặt đất chỉ chừng 0,6m. Suốt buổi chiều và đêm hôm đó, toàn bộ số tiền cổ này đã được thương lái đến mua và đem đi mất, trước khi chính quyền địa phương phát hiện và ngăn chặn!

Cả hai vụ phát lộ kho báu ở Văn Hóa này, tình cờ, hoặc cũng có thể do cơ duyên run rủi, tôi đều có mặt đúng lúc, ngay tại chỗ. Và dĩ nhiên, tôi cũng thành nhà báo đầu tiên đưa tin về vụ việc. Bài báo vụ thứ hai, tôi nhớ rất rõ, có tựa đề: “Hàng tấn tiền cổ phát lộ và…biến mất”, in báo ANTG số ra ngày 5/1/2004.

Đầu năm 2009, UBND huyện Tuyên Hoá, Sở VHTT và DL Quảng Bình cũng đã tiếp nhận 3 đồng tiền vàng của bà Nguyễn Thị Liên, trú tại thôn Tân Sơn, Sơn Hoá, Tuyên Hoá. Con dâu bà Liên phát hiện ra 3 đồng tiền cổ này tại khe nước Trọt Su trong xã. Đem vào tiệm vàng Kim Hoàn ở TP Đồng Hới thử, kết quả là những đồng tiền này đều đúc bằng vàng 99,99%, mỗi đồng tiền nặng 5 chỉ vàng. Có hai đồng đường kính 2,8cm, đồng còn lại đường kính 2,4 cm. Hai đồng tiền này đều giống nhau, một mặt có hoạ tiết mặt trời, mặt kia có 4 chữ “Hàm Nghi thông bảo”. Rất có thể, đây là những đồng tiền được đúc dập sau khi vua Hàm Nghi đã trên đường bôn tẩu. UBND tỉnh Quảng Bình đã trao 3,5 triệu đồng tiền thưởng cho gia đình bà Liên vì đã có công phát hiện và giao nộp những cổ vật có giá trị văn hoá lịch sử.

Hầu như không có kho báu nào ven dòng chảy trúc trắc giữa núi rừng kia mà tôi không biết, nếu không nói là thuộc hàng sớm nhất. Những thông tin này được tóm tắt từ hàng loạt bài báo mà tôi đã viết trong cơ man những lần ngược sông Rào Nậy, lên miền Tây Quảng Bình. Lạ, cả đời lao theo những vàng kho bạc đụn mà tôi nghèo vẫn hoàn nghèo; sông chảy dọc những hồi ức hoàng kim hùng sử mà vẫn triệu năm lặng lẽ. Vì sông chảy đời sông và người sống đời người, thờ ơ và vô tâm với bạc vàng nhân thế. Nhưng tôi biết, chính những câu chuyện, những phát lộ bất ngờ ấy đã thắp lên trong lòng không ít người những khát khao kiếm tìm kho báu của bậc đế vương phải rời ngôi trong thời quốc gia ly loạn.

Nguyễn Hồng Công quê ở xã Hải Thượng, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, là một sĩ quan biên phòng, công tác tại Long An. Đến mùa hè năm 1982, anh mới cưới vợ được 3 năm. Hai vợ chồng vừa sắm được một căn nhà nhỏ ở Q.4, TP Hồ Chí Minh và sinh được một gái một trai. Đúng lúc đó, Nguyễn Văn Luật, anh trai của Công, thủy thủ tàu viễn dương, sau một chuyến công tác từ nước ngoài vể có cầm theo và giao cho Nguyên Hồng Công một tấm bản đồ bằng da “nghi là bản đồ kho báu vua Hàm Nghi”.

“Thiên cơ bất khả lậu” cho nên Nguyễn Hồng Công vẫn không cho bất kỳ ai tận mắt nhìn thấy tấm bản đồ này. Nguyễn Hồng Công tin chắc rằng, tất cả đường đi nước bước, cách giải mã các ký hiệu của tấm bản đồ đều đã được ghi chép đầy đủ trong một cuốn gia phả mà ông đã sở hữu từ trước. Ngoài ra, ông còn sở hữu…một bài thơ, có những câu như: “Hóa Sơn ghìm bước quân vương tới/ Mã Cú lưu gìn báu vật xưa”. Theo ông Công, chính câu đầu tiên của bài thơ này – “Hóa Sơn tứ hải cuộc mưu sinh” - là mệnh lệnh, là sứ mạng được ký thác buộc ông phải dấn thân vào cuộc săn tìm…

Vậy la bỏ hết, đằng đẵng 30 năm sau đó, sau hàng chục lần bị đẩy đuổi, bị trục xuất, hàng chục lần ốm đau, tai nạn suýt mất mạng, Nguyễn Hồng Công vẫn một mình rị mọ trong rừng núi Hóa Sơn, Minh Hóa, Quảng Bình, đục tung cả núi, khai mở không biết bao nhiêu mó nước, mạch ngầm… để lùng tìm kho báu Vua Hàm Nghi. Từ năm 1999 đến năm 2013, tôi và vài nhà báo đồng nghiệp báo chí cũng đã cả chục lần vượt eo Lập Cập vào Hóa Sơn tìm ông, trò chuyện và khuyên giải. Nhưng vô ích. Lần nào, Nguyễn Hồng Công cũng hồ hởi: “Sắp mở cửa kho báu rồi. Chắc chỉ tuần sau. Phải ra chứ, đường hầm mà tôi đã đào chắc chắp lại cũng dài ra tới tận… (quê) Thanh Hóa. Không ra làm sao được”.

Nhưng không có tuần sau nào cả, không có cửa hầm nào cả. Tối 7/10/2017, khi đã gần nửa đêm, cùng lúc tôi nhận điện thoại từ hai người: Thượng tá Đinh Minh Hiến, Phó Trưởng Công an huyện Minh Hóa và ông Hoàng Văn Đại, cán bộ Trung tâm nghiên cứu khoa học của Vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Cả hai đều là người quen, cũng có thể coi là bạn của Nguyễn Hồng Công trong nhiều năm. Cả hai đều báo một hung tin: Nguyễn Hồng Công được phát hiện đã chết ngay tại lán tìm kho báu trong rặng núi Mã Cú, trong tình trạng thi thể đã bắt đầu phân hủy. Biết tôi nhiều lần viết bài về Nguyễn Hồng Công trong suốt 20 năm, họ tìm ra số điện thoại để ủy thác một trọng trách.

Làm báo, đa phần độc hành, chưa mấy khi đối mặt với nguy hiểm mà tôi phải run. Nhưng lần ấy, quá nửa đêm, khi bất đắc dĩ phải gọi điện cho bác sĩ Nguyễn Phương Thảo, con gái Nguyễn Hồng Công để báo tin dữ về cha cô, tôi đã phải bối rối. Hôm đó, Thảo mới sinh con đầu lòng được 3 ngày. Lưỡi tôi cứng đơ, thậm chí ngập ngừng mãi vẫn không biết phải bắt đầu thế nào để báo tin dữ; cũng không quyết định được nên gọi cô bác sĩ bằng em hay bằng cháu, dù tôi vẫn gọi cô giáo Phạm Thị Hà, mẹ Thảo, vợ của Nguyên Hồng Công bằng chị. Không áo mão cân đai, không bạc vàng châu báu, mở ra từ rực rỡ vàng son, huyền thoại về kho báu vua Hàm Nghi đã khép lại trong hiu quạnh…Mà biết đâu, theo thời gian lại có ngày huyền thoại lại được thổi bùng lên!

Ở xóm Thanh Lạng, xã Thanh Hóa, Tuyên Hóa, nơi có ông già kể chuyện đi đào giếng chôn kho báu, tôi lại gặp, quen, và thân thiết với một bi kịch khác. Sinh ra, lớn lên ở vùng đất đẫm giấc mơ bạc vàng vương giả nhưng đời họ chưa bao giờ nhìn thấy một tờ tiền. Bốn anh em ruột Hoàng Văn Viên, Hoàng Thanh Phong, Hoàng Văn Luyện, và Hoàng Văn Thượt đều khiếm thị bẩm sinh: sinh ra mắt của anh em họ đều không có nhãn cầu. Sau hơn 30 năm nằm một chỗ trong kẹt buồng tối và ẩm thấp, sống thực vật, Hoàng Văn Luyện qua đời. Hoàng Văn Thượt sức khoẻ rất yếu, hai đầu gối phình to ra như cối đá, trong khi hai bắp đùi thì ngày càng teo tóp. Thượt đi lại khó khăn, suốt ngày chỉ quanh quẩn trong xó bếp, nói năng cũng không tròn vành rõ chữ. Lâu lâu Thượt lại lên cơn, lại lao vào đấm đá, cắn xé hai người anh cùng cảnh ngộ tật nguyền. Viên, Phong cứ thế ôm em chịu trận, chờ người nhà đến gỡ Thượt ra.

Viên sinh năm 1971, Phong sinh năm 1978, chưa bao giờ nhìn thấy ánh sáng, chưa bao giờ đi đâu ra khỏi làng. Nhưng họ như cặp bài trùng, đi đâu cũng có nhau. Phong phía trước, Viên đặt hai tay lên vai em đi sau, họ lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm trong làng, chẳng lạc hay đi sai đường bao giờ. Ai thuê gì cả hai nhận nấy, cho bao nhiêu cũng gật, không đòi. Tẽ ngô, mò cua bắt ốc, chẻ củi thuê, nghề gì hai anh em cũng thạo.

Một tay buá, vài cái nêm và mỗi người một cây dao rựa, nhà nào gọi là họ đến. Lần tay rờ rờ, Viên canh cái nêm lên đầu thanh củi. Phong lần theo, ước lượng khoảng cách, độ dày, độ cứng. "Xong chưa?". "Xong!" "Một! Hai! Ba... Bụp". Một phát, chiếc búa 5kg trên tay Phong bổ xuống, súc củi tẽ làm đôi. Tôi đã nhiều lần tìm đến, im lặng đứng nhìn hai anh em chẻ củi cùng nhau. Và kinh hãi, sống lưng tôi lạnh toát. Khi đã thân, tôi bảo, nếu là tôi, hai mắt sáng như đèn, bổ củi kiểu đó chắc ít nhất cũng gãy tay mỗi ngày 2 lần. Phong cười: "Làm như chú nói thì ai dám thuê, tiền đâu!".

Đoạn sông Rào Nậy chảy sau nhà họ gọi theo tên đất là sông Thanh Lạng, bờ dốc đứng. Từ trên bờ xuống mặt nước phải cao chừng 15m, nước sông xanh ngăn ngắt và chảy khá êm. Sông sâu và trong xanh, riêng đoạn này xanh màu hồ thủy, mùa hè cũng mát lạnh. Mang theo một cuộn dây thừng, hai lưng đeo hai hom giỏ, Viên và Phong thường dắt nhau lần mò ra sông. Chọn một gốc cây to, Phong buộc một đầu thừng vào gốc cây và đặt dây vào tay Viên. Đầu dây kia, Phong quấn 2 vòng qua bụng và cứ thế lao thẳng xuống nước ngụp lặn. Gặp trai bắt trai, gặp ốc nhặt ốc cho vào giỏ. Thỉnh thoảng, chân đạp phải con cá, con chình bị quấn trong đám rong, cậu cũng tóm luôn. Không biết bơi, khi nào ngộp thở, Phong lại giật dây lia lịa để Viên gắng sức kéo lên. Không ít lần, sau mưa, nước sông dâng to và chảy xiết, đầu dây quanh gốc cây sút ra, khi Phong giật lia lịa, Viên cố níu dây nhưng sức yếu hơn, bị Phong lôi lộn cổ luôn xuống sông. Hai anh em cứ thế trồi trụt cố quẫy chân đạp đáy sông ngoi lên mà thở từng chặp, mặc cho nước cuốn đi, cho đến khi người làng phát hiện và giải cứu. Thoát chết, họ lại cười toe toét: “Chết răng được chú! Sông Thanh Lạng, đoạn mô bọn cháu cũng rành”.

Sức sống, bản năng sinh tồn của người nghèo đấy! Biết chuyện, Thanh niên tình nguyện tỉnh Quảng Bình mang lên tặng hai chiếc áo phao. Viên sờ vào, khoái quá, không chịu làm "cọc buộc dây" nữa. Hai anh em hối nhau mặc áo phao và tranh nhau nhảy ùm xuống sông. Áo phao khiến họ cứ nổi lều phều không tài nào lặn xuống đáy sông được. Hôm đó họ "thất thu", lại loay hoay khiến nước cuốn mất cả cặp hom giỏ. Người cũng bị cuốn đi cả đoạn xa mà không biết cách nào, hướng nào để bơi vào. Mãi sau, người đi làm đồng phát hiện, mới hò nhau xuống sông nắm thắt lưng lôi lên. Nhất mực bảo "bị thanh niên tình nguyện... lừa", hai anh em vứt tọt hai cái áo phao vô gầm giường không sờ đến lần nào nữa.

Thường thì cả ngày lặn hụp, họ bắt được khoảng 3-4kg gồm cả trai lẫn ốc. Ốc bán được 16.000-18.000 đồng/kg. Loại trai khe con to như 2 bàn tay úp lại bán có giá hơn. Phong khẳng định: "Loại đó đắt lắm. Chỉ có nhà hàng xịn trong Sài Gòn mới có thôi. Ở Đồng Hới tìm... mù mắt cũng không ra đâu chú".

Bù lại đôi mắt không nhìn thấy anh sáng, tai và mũi của họ đều cực tốt. Viên khoe có khả năng “ngửi” được…..sóng điện thoại. Hồi sóng di động bắt đầu phủ, Viên không có điện thoại nhưng thường đi theo giúp người khác tìm ra chỗ có sóng. “Theo cháu là gọi thoải mái”, cậu nói như thể một chuyên gia vibra thực thụ.

Phong thì tai bị mê hoặc bởi điệu buồn độc huyền, đã cạy cục tự... nghiên cứu và chế được một chiếc đàn bầu. Hộp đàn nhờ người anh cùng cha khác mẹ làm nghề mộc đóng giúp, dây đàn là sợi cước gỡ ra từ cần câu. Một chiếc lon sữa bò thay cho bầu, một thanh tre vót mỏng làm cần, cứ thế Phong chơi mê mải, rất nỉ non. Đám tang ma nào cũng có Viên gõ trống, Phong chơi đàn bầu, thức trắng đêm trải lòng ra réo rắt chia buồn cùng tang chủ. “Cưới hỏi thì thôi, nhưng đám ma thì phải đi chú ạ. Không có nải chuối thẻ hương thì bọn cháu góp 5, 10 ngàn cũng được. Rồi mình cũng có khi phải đi về”.

Năm 2010, Viên 39 và Phong 32 tuổi. Sau 10 năm chẻ củi, tẽ ngô, bắt ốc hai anh em dồn được một sổ tiết kiệm đã được hơn chục triệu đồng. Vì "cực kỳ tín nhiệm chú Lam" - tức là tôi - nên Phong thú thật: "Bọn cháu chỉ khao khát có đứa con nối dõi. Chú coi có ai cùng hoàn cảnh (khiếm thị) như tụi cháu, giúp cho cháu với. Hai anh em chung một người cũng được. Anh em cháu tình nguyện nhường lại sổ tiết kiệm, để họ nuôi con. Phải là người mù thôi, người sáng nhìn thấy bọn cháu là họ sợ, không ai đồng ý đâu. Đêm nào bọn cháu cũng đi nhưng chẳng thấy có ai... mù để mà hỏi họ cả!".

Tôi nghe, không biết trả lời sao. Dòng sông nào, dù đục dù trong cũng vơi đầy dòng nước. Đời người, dù sang hay hèn, sung sướng hay bất hạnh, khao khát yêu thương vẫn ngập lòng. Điệu ballade ven sông Rào Nậy, nơi thâm sơn cùng cốc, sao tê tái lòng đến thế.

Rời Thanh Hóa, tôi thường hay lao xe qua xóm Hung, xã Lâm Hóa, cũng thuộc huyện Tuyên Hóa, về phía Nam. Anh Cao Văn Thuỳnh, chị Cao Thị Loan cũng có 4 người con, nhưng sinh ra đều bại não bẩm sinh. Đứa lớn, mất năm 30 tuổi, nhưng thân hình chỉ như đứa trẻ 6 tuổi, tay chân co quắp, mồm miệng méo xệch đầy dãi dớt. Ăn, ngủ, tiêu tiểu chỉ một chỗ. Không phân biệt ngày đêm, cứ một đứa bất ngờ ò è gào lên là cả 4 đứa lại đồng ca, cùng rú lên những âm thanh không tròn vành rõ tiếng, gào rú mãi mà vẫn không ra được tiếng con người. Ăn, ngủ, tiêu tiểu chỉ một chỗ. Đứa nhỏ, năm 13 tuổi, khi chó đang dọn đống nó vừa thải ra thì nó bỗng lên cơn. Lũ chó giật mình, táp một phát. Nó thành đứa trẻ không chim! Tôi hay bạn mà rơi vào cảnh ngộ đó thì chắc đau khổ lắm, nhưng thằng bé ấy thì không. Sống đời thực vật, được bệnh viện Hương Khê (Hà Tĩnh) chữa lành, nó lại quay về với cơn rú gào muôn thưở, không lấy thế làm buồn.

Họ nghèo, sợ bầy con điên dại làm phiền xóm giềng nên hai vợ chồng dời nhà ra cuối xóm, sát chân núi. Anh Thuỳnh làm nông, làm thuê trong xóm, chẳng dám đi đâu xa. Chị Loan chỉ quanh năm suốt tháng ở nhà trông chừng bầy con điên dại, chỉ khát khao có một đêm được ngủ yên, không bị hành hạ bởi những tiếng rú gào không phải tiếng con người. Khi lũ trẻ hơi yên, chỉ lại treo bó cước lên dệt lưới mành bán cho dân trong làng đem thả bắt cá ở sông Rào Nậy lượn qua sau xóm, kiếm thêm chút thu nhập. Chị dệt thoăn thoắt, mắt lưới đều tăm tắp và không bao giờ rối. Chỉ tấm lưới bất hạnh phủ chụp đời vợ chồng chị là rối nùi, chẳng biết đâu mà gỡ.

Những câu chuyện, những phận đời như thế, hai bên dòng Rào Nậy, tôi đã gặp hàng trăm. Sông chảy giữa miền heo hút, những phận đời tôi gặp, tôi ngồi lại và lắng nghe cũng không kém hắt hiu. Sông vẫn chảy, đời người vẫn trôi. Bao nhiêu phận người vẫn nhẫn nại đi cùng năm dài tháng tận. Mà không trôi, biết dừng lại, neo đậu ở chỗ nào?

Thì ra, bao nhiêu hoài niệm về dòng sông cũng chỉ là nỗi ưu tư với con người. Không có những cuộc đời, khi huy hoàng, lúc điên rồ, lúc khốn khó, cả hân hoan và bất hạnh nữa, dòng chảy sông kia biết lưu lại điều gì?

Sau lần đầu năm 1999, tôi đã qua lại chỗ lần đầu đó - sông Rào Nậy và bến phà Rào Nậy - không biết bao nhiêu lượt. Tôi không biết bị dòng sông hay nhưng phận đời mê hoặc. Chẵn một phần tư thế kỷ, tôi đã ngược sông Rào Nậy cả trăm lần. Xóm làng ven sông, tôi ngỡ quen thuộc từng gốc cây ngọn cỏ.

Là nói vậy thôi, lòng vẫn muốn và chân vẫn đi. Đời người cũng như sông, một hành trình dằng dặc. Mỗi lần ghé lại và ngồi xuống là lại thêm bao điều mới mẻ. Tôi biết là mình không bao giờ hiểu hết. Không trôi đến cuối dòng sông, ai biết biển lớn mở ra những gì. Chợt nhận ra, đôi khi ngồi bệt giữa nhân quần, cố gắng lắng nghe giấc mơ đời người khác, đó là khi ta hiểu chính mình hơn. Chỉ duy nhất tôi dám chắc: không thể nào ngược hay xuôi hết dòng Rào Nậy bằng thuyền. Ngòi bút và những bước chân lãng du hay tìm kiếm, cuối cùng cũng chỉ có thể sẻ chia đôi chút, không thể thay đổi được gì trong cả khát khao và nỗi bất hạnh của con người.

Qua lại trăm lần tôi vẫn không hiểu ra, sao trời lại sinh ra cù lao trắng phau lấp lóa giữa dòng. Trời ạ, câu hỏi tưởng ngớ ngẩn nghìn năm không lời đáp, ai dè lại được khai minh bởi gã chạy phà răng nhuộm khói thuốc lào đang cười hềnh hệch: "Răng thì nỏ biết, nhưng không có cù lao đó, trai gái trong làng biết bơi đi đâu để...yêu nhau". Rồi liếc sang cô gái đang phụ đò, gã lại cười nham nhở: "Cũng nhờ hấn (nó, tức cù lao) mà bọn cháu giừ (giờ) mới thành vợ thành chồng. Mà đàn bà bơi ra bãi đó thì đẻ mắn lắm chú ạ. Ngó ri chứ ả nớ ba lứa rồi chú nờ!".

Đi mãi, tôi có khá nhiều bạn bè bên sông Rào Nậy. Vài người bạn thân thiết, đồng nghiệp trong nghề báo cũng sinh ra đâu đó gần ga Lạc Sơn, Lệ Sơn gần hai bến Sảo Phong và Minh Cầm. Hồi nhỏ, khi không còn nhỏ lắm, bè bạn tôi chắc cũng không ít lần bơi qua bơi lại trên dòng sông ấy để ra bờ cát cù lao, để khôn lớn, trưởng thành. Có phải vì nhớ những lần bơi qua bơi lại hay không thì không chắc, nhưng ám thị dòng sông của bạn tôi, đoán hẳn phải là dòng sông Rào Nậy.

Sông chảy đời sông. Sông Rào Nậy không rộng mà dài, vơi đầy đầy những tiếng thầm thì…

Viết bên sông Sài Gòn, 30/6/2024

NGUYỄN HỒNG LAM

Top