Truy cập: 20,021,032 lượt

Cõi người mênh mông

Năm 1993, sau khi mộng vào đại học của tôi đổ vỡ vì hoàn cảnh gia đình, và giấc mơ nghệ sĩ của tôi tan tành vì ảo vọng, tôi loay hoay tìm kế sinh nhai tại Sài Gòn.

 

 

Nhà nghiên cứu Đinh Thị Thanh Thủy – Phó ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TPHCM và nhà văn Bùi Anh Tấn trao giải nhì cho tác giả Đào Ngọc Vinh (Bến Tre – Vĩnh Long)

 

Ở “chui” ký túc xá Trường Nghệ thuật Sân khấu 2 và ăn bám thằng bạn đồng hương một thời gian, tôi quyết định đi tìm việc làm. Tôi đọc tất cả các mục “Người tìm việc, việc tìm người” trên các báo, phần lớn nhà tuyển dụng đều đòi hỏi có bằng cấp và kinh nghiệm.

Đang thất vọng ê chề thì may đâu, tôi thấy được mục tuyển lao động phổ thông, phụ làm bánh ngọt cho một cơ sở ở quân 10. Như người gần chết đuối vớ được chiếc phao, tôi mượn chiếc xe đạp cà tàng của thằng bạn, lần tìm địa chỉ họ cho trong mục tìm người. Và họ nhận tôi ngay với thoả thuận lương mỗi ngày ba ngàn rưỡi và một bữa cơm trưa, chỗ lưu trú tự túc. Tôi hẹn họ một tuần sẽ trở lại nhận việc.

Được việc, nhưng sự lo lắng của tôi vẫn canh cánh, đó là chỗ ở, vì người quản lý ký túc xá hình như phát hiện sự có mặt “bất thường” của tôi ở đây. Đang rối trí việc chỗ ở thì bỗng tôi nhớ mang máng, rằng mình còn có người chị chú bác ruột ở Tân Bình. Số là, có lần dự đám giỗ nhà người bà con bên nội, tôi được giới thiệu là con riêng của cha tôi, chị Ba, chị chú bác ruột, đến bên tôi, ân cần hỏi thăm hoàn cảnh gia đình và cuộc sống của tôi. Biết tôi sắp tốt nghiệp cấp ba và chuẩn bị lên Sài Gòn thi đại học, chị dặn: Lên Sài Gòn có khó khăn gì, đến gặp chị nghen. Nhà chị ở Bàu Cát, khu phố ba, đường Cách mạng tháng tám, quận Tân Bình (bộ nhớ dai giúp tôi trong những lúc bức bách, như trong trường hợp này).

Cọc cạch chiếc xe đạp cà tàng của thằng bạn đi tìm “Chị Ba” ở khu phố 3, đường Cách mạng tháng tám, quận Tân Bình. Nửa ngày tìm kiếm, rồi tôi cũng tìm được nhà chị trong cái mênh mông Sài Gòn. May, chị nhớ tôi ngay, chị ân cần hỏi thăm tôi đủ điều. Tôi kể sơ qua hoàn cảnh của mình hiện tại và những dự định sắp tới, chị xởi lởi:

– Thôi được rồi, để chị bàn với anh ba cưng một tiếng, rồi về đây ở với chị, nhà rộng rinh hà, đừng có lo.

Tôi mừng rơn trong lòng. Cứ tưởng người sài Gòn luôn tránh né, đề phòng thậm chí bạc đãi người dưới quê, ai ngờ sự rộng lượng vốn có của người miền Tây nhập cư vẫn còn rất nhiều ở cái thành phố phồn hoa này.

***

Hành trình kiếm cơm của tôi bắt đầu. Về nhà chị, trong túi tôi còn vỏn vẹn hai ngàn đồng. Từ nhà chị tới cơ sở làm bánh ngọt của ông chủ người Hoa khoảng tám cây số. Để tiết kiệm tiền, tôi chọn phương án đi bộ, chứ không đi xe buýt. Thời gian di chuyển chừng hơn một tiếng. Ngày đầu tiên đi làm, tôi khởi hành lúc năm giờ sáng, gần sáu giờ rưỡi thì tới cơ sở. Vì đã quen lội bộ đi học ở quê nhà, nên chuyện tiếp tục lội bộ đi làm không làm khó tôi. Khi nhận việc, ông chủ giới thiệu sơ qua công việc của tôi, tôi chỉ mỗi một thao tác thôi: Nhặt bánh trên vỉ nướng khi nhân công lò nướng đem bánh từ lò ra, cho vào cái thùng giấy, vậy thôi.

Tôi hình dung và thấy nó vô cùng đơn giản. Nhưng khi bắt tay vào việc mới biết nó “không dễ nuốt” chút nào. Một cái vỉ nướng nóng hổi trong lò vừa đem ra, bằng tay không (không có bao tay), tôi phải nhanh tay nhặt từng cái bánh lạt đường hình vuông xếp vào thùng cho gọn gàng. Ngón tay tiếp xúc với sức nóng của vỉ nướng, rát bỏng. Rồi tôi phải đứng như vậy xuyên suốt 2 tiếng đồng hồ mới cho giải lao năm phút. Đúng bốn tiếng, họ cho nghỉ ăn cơm trưa, nghỉ ngơi một tiếng tiếp tục công việc. Ngày đầu tiên đi làm về, tôi rã rời. Mười đầu ngón tay rát buốt. Tôi tự an ủi mình, chắc một hai ngày sẽ quen thôi. Chị Ba hỏi tôi ăn cơm chiều chưa, tôi dối chị, rằng đã ăn ở cơ sở rồi, dù trong bụng đang cồn cào. Tôi không muốn làm phiền gia đình chị thêm nữa, vì chị cho tôi ở nhờ nhà chị là quí lắm rồi.

Trong cơ sở làm bánh, chỉ có ba nhân công, là hai thợ nướng bánh và tôi là người lượm bánh, còn lại những công đoạn khác là người của gia đình chủ. Họ gần như im lặng cả ngày, cắm đầu làm việc, thỉnh thoảng cần trao đổi gì với nhau thì họ sử dụng tiếng Hoa, họ không muốn hoà đồng. Hai người nướng bánh, một người gốc Hoa, một người miền Tây. Người gốc Hoa cũng lầm lì như chủ, cho nên, người tôi có thể giao đãi vài câu trong khi nghỉ giải lao, chỉ có một mình anh Cho. Anh Cho quê ở Tri Tôn, An Giang, ở quê chỉ có hơn công ruộng mà thất lên thất xuống nên đùm túm vợ con lên Sài Gòn kiếm sống. Mướn một phòng trọ ở quận 6, anh đi làm công, chị nấu xôi ngồi ở đầu hẽm bán kiếm thêm chút thu nhập. Một buổi sáng, khi vào làm việc, anh vô tình phát hiện tôi ngồi nhai những chiếc bánh cũ. Những chiếc bánh không đủ chất lượng, người ta dạt ra khi vô thùng bán ra thị trường. Anh nhìn tôi, ánh mắt ngạc nhiên, ái ngại lẫn tò mò:

– Bộ cả tuần nay mầy ăn sáng vậy đó hả?

Tôi rón rén gật đầu:

– Em không dám ăn sáng, để dành tiền gửi về quê cho mẹ trị bệnh. Tôi thấy đôi mắt anh đỏ hoe.

Trưa đó, sau khi ăn trưa, được nghỉ một tiếng, anh hỏi tôi cặn kẽ về cuộc sống gia đình và hoàn cảnh hiện tại. Tôi thật thà với anh. Và thêm rằng, để tiết kiệm tiền gửi về cho mẹ tôi trị bệnh, tôi không dám ăn sáng và ăn chiều, chỉ cố gắng ăn thật no vào buổi trưa ở nhà chủ để “trữ” năng lượng cho đến sáng hôm sau. Tôi cũng không dám đi xe đò tuyến Hóc Môn – Chợ Lớn, tuyến đường tôi đi làm hàng ngày dù giá rất rẻ, mà đi bộ, để ki cóp thêm chút tiền. Anh có vẻ xúc động với câu chuyện của tôi. Anh nói trong buồn bã:

– Sài gòn, “tiền cảnh” thì thấy toàn hào nhoáng, sang trọng, giàu có, nhưng phía sau là hàng ngàn, hàng triệu những bi kịch cuộc đời, những kẻ sống dưới đáy xã hội như anh em mình. Ráng mạnh mẽ lên, tích cóp rồi kiếm cái nghề gì đó mà học để tiến thân, chứ làm công, làm mướn như anh với mầy thì mãi mãi vẫn là tầng lớp mạt hạng chớ làm gì ngóc đầu lên được.

Nghe anh nói, tôi ngờ ngợ rằng anh không phải là người ít học, thậm chí có thể là một người học khá. Và đúng như vậy, anh từng đậu đại học nông nghiệp Cần Thơ, nhưng không có tiền đi học, đành bỏ dở ước mơ trở thành kỹ sư để về cưới vợ, sinh con như bao người nông dân miền Tây khác. Rồi không sống nổi với ruộng nương ít ỏi, đã đẫy anh từ một kỹ sư nông nghiệp “tiềm năng” trở thành một công nhân hạng bốn ở cái thành phố hỗn độn này.

Sau buổi nói chuyện hôm ấy, tôi với anh dần thân nhau, thường ngồi tâm sự nhau về cuộc sống, về nỗi buồn mùa màng, thời cuộc và những chuyện linh tinh khác sau bữa cơm trưa được nghỉ ngơi một chút. Anh bảo tôi, anh không giúp gì được gì vật chất cho chú mầy, nhưng anh có thể chia sẻ chút khó khăn với chú mầy trong thời điểm này. Sáng anh chịu khó đi sớm chừng mười lăm phút, đón mầy ở giữa đường để chở mầy đi làm, chiều cũng đưa mầy tới đó, anh về trễ chút không sao. Tôi cản, bảo rằng tôi còn trẻ, khoẻ, chịu đựng được, anh không phải lo. Nhưng anh cương quyết, nói là làm. Sáng hôm sau, tôi lội bộ tới khoảng giữa Ngã Tư Bảy Hiền và trường đua Phú Thọ thì thấy anh đạp xe đạp lù lù tới. Tôi vừa bất ngờ, vừa xúc động. Vậy là anh lọc cọc chiếc xe đạp cà tàng có cái baga xịu xạo như có thể xúc ra bất cứ lúc nào, chở tôi tới chỗ làm. Tới chỗ, anh đùa:

– Mầy ráng ngồi ê đít vài bữa, lãnh lương tao mua cái baga mới, cho mầy ngồi êm hơn. Mà nè, bắt đầu từ hôm nay, không được ăn bánh cũ nữa, mất vệ sinh và không an toàn, ăn sáng để tao lo cho, có nhiêu đâu mà ngại.

Anh móc trong cái giỏ bẹ cũ mèm của mình đưa cho tôi gói xôi được gói bằng lá chuối, còn âm ấm. Tôi muốn bật ra lời cảm ơn anh, nhưng giọng tôi cứ ứ nghẹn lại. Tôi quay đi để không rơi những giọt nước mắt trẻ con trước mặt anh. Vậy là, bắt đầu từ hôm đó, ngày ngày tôi chỉ đi bộ hơn nửa đoạn đường, và mỗi sáng không phải lượm bánh trong thùng bánh cũ để ăn. Lúc thì ổ bánh mì, lúc thì xôi bắp, lúc thì bánh mặn… đều đặn ngày nào cũng như ngày nào. Nhiều lần lãnh lương xong, tôi gửi lại anh ít tiền, phụ anh tiền anh mua đồ ăn sáng cho tôi, anh phủi tay, lắc đầu nguầy nguậy: Để dành tiền gửi về mà lo cho bà già trị bệnh, lo chút đỉnh cho mầy mà có đáng gì, như thằng anh lo cho thằng em thôi. Tôi lại nghẹn ở cổ! Cũng từ đó, buổi trưa nào cũng vậy, lúc lãnh cơm trưa, anh bao giờ cũng chỉ ăn nửa phần cơm, và hơn một nửa đồ ăn, phần còn lại, anh cho vào cái cà mên cũ, đậy nấp lại, chiều bảo tôi xách về ăn. Anh nói như rầy một người em ruột:

– Nhịn đói riết mầy đau bao tử chết, rồi ai lo cho mẹ mầy? Anh còn vợ con ở nhà, chiều về có cơm nước sẵn, tuy không sang trọng gì, nhưng tươm tất. Ráng lên em, cùng khổ với nhau, chia sớt nhau trong lúc khó khăn, có đáng gì đâu, mầy đừng có ngại.

Tôi hoàn toàn thụ động trước cái tình, cái nghĩa của người đàn ông phương Nam gặp nhau chỉ hơn một tuần lễ. Từ ngày “gia nhập” bất hợp pháp ở cái Sài Gòn nhiều cạm bẫy này, tôi đã may mắn gặp không ít những tình thương mến thương, những chân tình, những ân nghĩa, những trượng phu (mà tôi đã thể hiện trong một bài ký khác); những con người sống cùng mòn dưới đáy xã hội, nhưng bên trong họ là sự nhân ái, sự thiện lương và lòng trắc ẩn đối với người cùng cảnh ngộ. Họ sẵn sàng sớt chia chút đỉnh những gì mình có với người khác một cách không toan tính, vụ lợi.

Rồi một buổi sáng, gần hai tháng tôi đi làm, khi đứng chờ anh Cho ở địa điểm quen thuộc, tôi nhìn thấy ngoài chiếc xe đạp thường ngày anh chở tôi, anh còn kè thêm một chiếc xe đạp đòn dông khác. Vừa dừng xe, ánh mắt anh ánh lên niềm vui:

– Anh mới xin người quen cho mầy chiếc xe cũ nè, cũng còn ngon lắm. Mầy thay cái thắng là chạy ngon lành.

Tôi muốn nói một lời gì đó để tri ân người đàn ông tốt bụng này, mà nói không nên lời. Vậy là từ hôm đó tôi không phải lội bộ hàng chục cây số để đi làm, tôi không phải ngốn những chiếc bánh lạt đường bẩn thỉu trong thùng bánh cũ, tôi không phải ăn cho đầy bụng, nhịn ăn buổi tối để dành tiền gửi về cho mẹ trị bệnh. Tất cả là nhờ người đàn ông miền Tây xa lạ cùng cảnh ngộ có cái tên phù hợp với bản chất thuần lương của anh: CHO.

Một hôm, cơ sở làm bánh cho chúng tôi nghỉ một buổi chiều, anh rủ, hay mầy tới nhà trọ của anh, cho biết? Tôi gật đầu chạy theo anh. Đó là một căn nhà trọ ọp ẹp nằm trong một con hẽm nhỏ trên đường Kinh Dương Vương. Tôi quan sát nhanh, và thấy căn phòng không có gì đáng giá nhưng sạch gọn, tinh tươm. Anh anh áy náy nhìn tôi, phân trần:

– Ở trọ mà, thiếu đủ thứ. Chút chị mầy về kêu nó làm món gì đó, gia đình mình ăn chung một bữa cho vui.

Ba chữ “gia đình mình” rất tự nhiên của anh làm tôi thấy ấm áp vô cùng. Ừ, thì những người mạt hạng, bôn ba kiếm sống như tôi, anh và hàng trăm ngàn người ở cái thành phố này luôn cần lắm một gia đình, một gia đình nhỏ và tạm bợ thôi, cũng đủ hạnh phúc rồi.

Chị về. Đó là một phụ nữ dáng vẻ lam lũ, cần mẫn và chịu đựng. Tuy vậy, chị lại có một nụ cười đẹp và nhân hậu.

– Là cậu Phương mà anh thường nhắc với em đây hả? – Chị hỏi anh.

– Nó đó, quê Bến Tre, hoàn cảnh éo le lắm. Em coi nấu món gì đó ngon ngon cho em nó ăn, tội nghiệp, đói lên đói xuống.

– À, vậy là hôm rồi anh mua chiếc xe đạp cũ, là mua dùm cậu em này đây?

Tôi thấy anh đưa mắt liếc qua chị, như ra hiệu đừng nói nữa. Và điều đó báo với tôi rằng, việc anh nói với tôi chiếc xe đòn dông được người ta tặng là anh nói “bịa” với tôi, để tôi yên tâm nhận nó. Thực chất là anh mua nó lại từ ai đó. Lại một lần nữa, tôi mắc nợ anh, món nợ ân tình không thể trả bằng tiền bạc, vật chất. Tôi ghi trong sổ đời tôi thêm một món nợ với anh.

Rồi một buổi sáng, tôi đến cơ sở làm bánh như thường lệ. Tôi không thấy anh ngồi ở chiếc ghế cây cũ ăn bánh mì như mọi khi (anh thích ăn bánh mì thịt). Bảy giờ, tám giờ, chín giờ… anh vẫn không có mặt. Ông chủ cơ sở nhăn nhó vì sự vắng mặt bất thường của anh. Tôi cũng bắt đầu lo lắng. Một ngày, hai ngày, ba ngày… chỗ anh đứng nướng bánh vẫn không có người. Tới ngày thứ năm anh vẫn không đi làm, tôi bồn chồn, lo lắng. Chiều đó, vừa nghỉ làm ở cơ sở, tôi vội vàng chạy đến khu nhà trọ của anh. Phòng trọ đóng cửa im ỉm. Một cái gì đó như linh cảm báo với tôi có chuyện không lành đối với gia đình anh. Và, người đàn bà đứng tuổi bên cạnh phòng trọ của anh kể bằng gọng buồn, rằng, vợ anh bị đột quỵ, chết khi chưa kịp chở tới bệnh viện. Anh chở chị về quê chôn cất. Hôm qua anh có trở lên phòng trọ, là để đùm túm đồ đạc về nhà, và chắc không trở lại đây nữa. Tôi chết lặng. Nước mắt cứ trào ra như một đứa trẻ mất một thứ gì đó rất quí giá trong cuộc đời mình.

Khi lao vào viết báo, viết văn, nhiều lần tôi đến Tri Tôn, đến Tà Pạ, địa chỉ mà tôi nghe anh loáng thoáng nhắc đến trong lúc trò chuyện, tôi có thử hỏi vài người dân bản địa về cái tên CHO, cầu may. Nhưng trong cái cõi mênh mông người này, kiếm một cái tên có quá ít thông tin như vậy khác nào “mò kim đáy biển”. Anh thoáng đến, thoáng đi trong cuộc đời tôi, “quăng” vào tôi một mớ ơn nghĩa, rồi biến mất như chưa từng tồn tại. Có một buổi chiều tối trên cánh đồng Tà Pạ, Tri Tôn, tôi đứng nhìn những dãi mây xám lửng thửng trên đỉnh Núi Dài và vài cánh chim chấp chới trong chạng vạng, tôi nghĩ mông lung về mây, chim và con người, có những lúc đều vô định như vậy. Rồi tôi liên tưởng, hiện nay có hàng ngàn, hàng vạn”ANH CHO” đang bôn ba kiếm sống ở Sài Gòn, những người dân nhập cư chất phát, thật thà, sẵn sàng nhường cơm xẻ áo cho người khác, khổ sở hơn mình mà không đắn đo, toan tính. Tự nhiên tôi yêu những thân phận bé mọn đó vô cùng. Và anh CHO, bây giờ anh ở đâu trong cõi người mênh mông này?

ĐÀO NGỌC VINH

Top