Đơn vị đồng hành
Truy cập: 19,792,507 lượt

Chuyện chưa kể về Cậu tôi - Nhạc sĩ Lý Anh Võ (Phần 1)

Hiếm người được biết tôi và nhạc sĩ Lý Anh Võ là cậu cháu thân thiết trong đại gia đình xứ Võ. Bởi, chẳng khi nào cậu chủ động nói về tôi hay tôi kể về cậu trước mặt người ngoài.

Sở trường của cậu là dạy nhạc và sáng tác ca khúc thiếu nhi. Còn thế mạnh của tôi nghiêng hẳn về thơ tình và thơ thế sự. Cùng hoạt động nghệ thuật, cùng lấy tên riêng làm bút danh, nhưng cậu cháu tôi dấn thân và phát triển theo hai hướng khác nhau.

 

Nhạc sĩ Lý Anh Võ - Người cậu thân thiết, người bạn lớn có ảnh hưởng đến cuộc đời tôi.

 

Đôi lúc tôi hay đùa rằng cậu cháu mình bị lạc nhịp. Bởi thơ tôi không đúng "gu" của cậu, nên rất khó tạo cảm xúc và sự thăng hoa cần thiết cho cậu phổ nhạc. Hoạ hoằn lắm, tôi mới trưng ra được một bài thơ thiếu nhi đưa cậu thẩm định, thì cũng chỉ nhận lại cái lắc đầu và nụ cười hiền. Cậu nói: "Viết thơ thiếu nhi bắt buộc phải có tính nhạc. Yếu tố này giúp câu thơ có nhịp điệu, gieo vần dễ nhớ, dễ thuộc. Còn thơ của cháu mang nhiều tính triết lý chiêm nghiệm đời sống, chưa phù hợp với trẻ thơ". 

Tôi cũng biết vậy. Nhưng để làm được một bài thơ thiếu nhi đúng chất thiếu nhi thì đâu có dễ. Mà bài thơ thiếu nhi đó còn phải hợp "gu" đúng ý với người cậu, người thầy khó tính của mình lại càng không dễ.

Người ta bảo "Bụt nhà không thiêng" là thế!

Nhưng cho dù hai cậu cháu chưa tìm thấy được điểm tương đồng trong sáng tác ca khúc thiếu nhi, thì chúng tôi vẫn luôn tôn trọng đời sống cá nhân, cá tính sáng tạo của nhau. Cậu sống và làm theo đam mê của Cậu. Tôi sống và theo đuổi ước mơ của tôi. Cả hai cậu cháu ủng hộ nhau trong thầm lặng.

******

Trong gia đình, cậu Lý Anh Võ là một người hiền lành, vui tính, không bao giờ hơn thua hay nặng nhẹ với ai. Cậu sống nội tâm, tình cảm, có trách nhiệm và biết cách quan tâm người thân. Ngay từ bé, tôi đã là đứa trẻ được cậu yêu thương, nuông chiều.

Mẹ tôi và cậu là anh em cô cậu ruột, từ nhỏ đã gắn bó thân thiết. Khác với mẹ sớm yên bề gia thất từ năm 23 tuổi, cậu lại dành cả thanh xuân rong ruổi với đam mê âm nhạc và sự nghiệp.

Đường tình duyên của cậu cũng nhiều lận đận, thử thách. Mãi gần đến tuổi trung niên cậu mới kết hôn và hạnh phúc vỡ oà khi mợ sinh được một cô con gái độc nhất. Đối với người đàn ông đã đi qua nhiều thăng trầm như cậu, món quà muộn màng này như một niềm an ủi lớn.

Nhà của cậu ở ngã ba đường Nguyễn Huệ. Nhà của Ngoại tôi ở đầu đường Lê Hồng Phong. Xưa hai nhà cùng ngụ tại phường Trần Phú. Nhón bước chân đi bộ non trăm thước là gặp nhau rồi.

Ngày bé, vào mỗi kỳ nghỉ hè, tôi thường được Ngoại cho sang nhà cậu chơi. Cái phòng nhạc của cậu nhỏ xíu xiu mà ngổn ngang đủ loại đàn. Không một chỗ trống cho tôi chạy nhảy chơi đùa. Trong không gian be bé ấy, cậu dành phần lớn làm phòng thu âm, luyện thanh nhạc cho học trò. Phần còn lại đặt bàn làm việc, hàng ngày cậu ngồi soạn giáo án.

Quy Nhơn những năm 1990 mang vẻ đẹp mộc mạc và bình yên. Nhịp sống của thành phố biển thời bấy giờ tương đối chậm rãi. Nhưng, đời sống văn nghệ lại vô cùng phong phú. Cậu tôi khi đó là một người Thầy dạy nhạc khá mát tay. Học trò gần xa, trong hay ngoài tỉnh đều biết tới cậu hoặc chí ít cũng nghe danh của cậu. Làm nghệ thuật mà được Tổ nghề thương và độ thì quý lắm. Nhờ thiên thời địa lợi nhân hoà, cậu có thêm một khoản thu nhập kha khá từ phòng thu này ngoài lương dạy nhạc ổn định tại trường Cao đẳng Bình Định. Cuộc sống kinh tế không quá nhiều áp lực nên gia đình cậu cũng không phải tất bật lo chuyện cơm áo mỗi ngày.

Có một lần tôi sang chơi, ngẫu hứng ngân nga một khúc nhạc thiếu nhi quen thuộc, thình lình bị cậu phát hiện. Cậu vỗ tay thật giòn thật dài từ phía sau, làm tôi giật nảy mình. Cậu nói "Cháu Ni của cậu có năng khiếu đó". Biết tôi thích ca hát, cậu thường chỉ dạy cho tôi cách lấy hơi, luyện thanh nhạc. Những lúc rảnh rỗi, hai cậu cháu quây quần bên cây đàn organ. Cậu vừa đàn vừa tập cho tôi làm quen với các nốt đồ-rê-mi-fa-sol-la-si trên khuông nhạc. Tiếng cười rộn vui khắp nhà.

******

Ba tháng hè trôi qua nhanh chóng. Cậu trở lại giảng đường. Tôi quay về trường lớp. Những buổi học nhạc, luyện thanh giữa hai cậu cháu tôi cũng bị gián đoạn. Nhưng, sau những buổi học trên lớp, về đến nhà tôi vẫn siêng năng tập hát theo hướng dẫn của cậu, chăm chỉ luyện thanh mi mi ma ma mô mô đều đặn.

Nhớ lại năm cuối cấp 1, tôi may mắn đoạt giải Nhất đơn ca với bài hát "Cho con" của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu. Khi nghe tin, cậu vui ra mặt. Lại nói về giải thi hát đầu đời này, cũng tình cờ như một cái duyên. Năm đó, ngành giáo dục huyện Tây Sơn tổ chức "Hội thi tiếng hát Hoa phượng đỏ". Trường THCS Tây Phú - nơi mẹ tôi công tác không chọn được người phù hợp để tham gia theo tiêu chí của chương trình. Thế nên, khi gặp tôi theo mẹ đến trường chơi thì thầy hiệu trưởng hỏi ngay: "con biết hát không?". Tôi gật đầu. Vậy là thầy bàn với mẹ đăng ký cho tôi đại diện trường tham gia tiết mục đơn ca. Tôi trở thành giọng ca nhí từ cuộc chơi bất đắc dĩ đó khi vừa tròn 11 tuổi.

Thời gian thắm thoát thoi đưa. Chẳng mấy chốc tôi đã vào cấp 3, trở thành một cô nữ sinh dịu dàng. Việc học hành thi cử thường xuyên đè nặng. Những dịp cùng ngồi  luyện thanh với cậu cứ thưa dần. Nhưng năm lớp 11, tôi cũng có một kỷ niệm rất đẹp. Đó là vào dịp trường Quang Trung tổ chức 30 năm ngày thành lập và mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, tôi được lớp 11A chọn tham gia 2 tiết mục tốp ca và song ca, sau đó được thầy hiệu trưởng cử đi thi tỉnh. Biết chuyện, cậu tranh thủ luyện thanh nhạc cho tôi. Lần này, may mắn lại tiếp tục mỉm cười. Tiết mục của chúng tôi "ẵm" được giải Nhì với ca khúc "Tia nắng - hạt mưa" của nhạc sĩ Khánh Vinh phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Lệ Bình. 

Lên đại học, tôi đều dành thời gian về quê thăm cậu vào mỗi dịp hè. Hai chúng tôi thường ngồi trao đổi với nhau rất nhiều chuyện, mà quanh đi quẩn lại vẫn là câu chuyện âm nhạc. Có một lần, cậu tâm sự với tôi rằng nhà mình không có đứa cháu nào chịu theo nghề nhạc của cậu, rồi cậu thở dài lo lắng sau này không có người kế tục sự nghiệp mà cậu dành cả đời để thực hiện đam mê. Gặp nhau nhiều lần nữa, cậu vẫn hỏi tôi về lựa chọn hướng đi nào cho tương lai. Khi đó, tôi im lặng.  Nhưng rồi cũng âm thầm nghe lời cậu thi vào trường âm nhạc Sài Gòn. Nhập học được một học kỳ đầu thì tôi xin rút lui và dừng lại để toàn tâm học chuyên ngành sư phạm theo định hướng của ba mẹ. Quyết định này không phải do tôi muốn, mà từ sự thúc ép quá lớn từ một người cậu ruột khác trong gia đình khi cho rằng "Ca sĩ là nghề xướng ca vô loại". Thời điểm đó, không ai ủng hộ tôi đi theo con đường ca hát dù thời điểm đó tôi đã sinh hoạt trong nhóm tam ca (gồm Minh Nhựt, Minh Đan và Đoàn Phi), ngoài cậu Lý Anh Võ. Tôi ôm nỗi buồn ghì chặt trong lòng suốt một thời gian dài. Cậu cũng hiểu ý, không còn nhắc lại chuyện này nữa.

Dù kế hoạch lấn sân vào con đường ca hát chuyên nghiệp đã thay đổi, nhưng suốt 4 năm rưỡi ở giảng đường đại học, tôi cũng đã "thu hoạch" về cho bản thân 3 giải đơn ca gồm 2 nhất, 1 nhì trong các phong trào văn nghệ tổ chức tại trường. Được tin, cậu rất mừng, rất phấn khởi xen lẫn niềm tự hào. Bình thường, cậu ít khi thể hiện cảm xúc ra bên ngoài, nhưng lần đó cậu không ngừng khích lệ tôi. Và về sau thì cậu lặng lẽ dõi theo hành trình của tôi mà âm thầm ủng hộ.

******

Năm tháng dần trôi. Tôi ra trường và chọn bước vào nghề báo đầy gian nan, thử thách. Để có thể bám trụ được ở thành phố vào thời điểm 2003 không phải là chuyện dễ dàng với một cây bút trẻ tỉnh lẻ như tôi. Những chuyến rong ruổi tiếp cận nhân vật, phỏng vấn nhân vật, tham dự sự kiện, săn tin, viết bài... đã cuốn tôi đi mỗi ngày như một lập trình công nghiệp. Với đồng lương ít ỏi 500 ngàn đồng, không đủ cho khoản xăng xe, ăn uống, buộc một lính mới là tôi phải vắt chân lên cổ chạy marathon khắp các báo để kiếm thêm tiền nhuận bút, mong có đủ chi phí trang trải cuộc sống. 

Thấy tôi ngược xuôi tìm vị thế cho mình, cậu không ngừng hỏi han lo lắng. Nhưng, cậu chỉ nói lời động viên tôi cố gắng theo đuổi đến tận cùng nghề viết đã chọn. Bởi theo cậu, không có thành công nào đến dễ dàng nếu bản thân không nuôi dưỡng đủ đam mê và lòng kiên trì. 

Đường tàu chữ nghĩa cuối cùng cũng đến được sân ga. Sau 15 năm dấn thân làm báo chuyên nghiệp, với 2 tấm thẻ nhà báo được Bộ Thông tin truyền thông cấp, cũng xem như tôi đã thành công. Khi thấy nghề báo đang dần "hạ nhiệt", bản thân tôi cũng không còn máu lửa như thời trẻ nữa. Tôi quyết định dừng lại. Sự dừng lại này không phải để kết thúc, đoạn tuyệt với chữ nghĩa, mà là mở ra một chương mới cho hành trình tiếp theo của đời mình. 

Trong một chuyến công tác cùng với đoàn thiện nguyện lên Tây Nguyên, tôi may mắn gặp được một nữ doanh nhân. Sau khi trở về, tôi có cơ hội làm việc chung với chị. Từ một bài báo tôi viết về chị mà tôi trở thành cộng sự gần gũi bên chị, chịu trách nhiệm về công việc xây dựng thương hiệu và làm truyền thông cho doanh nghiệp của chị. Khi có được một môi trường làm việc thân thiện, với nguồn thu nhập ổn định, tôi dành nhiều thời giờ hơn cho đam mê thi phú.

Lại nói về thi phú, cả đời này, tôi không thể nào quên được vết thương đã hằn sâu trong lòng. Đó là câu chuyện về một tập bản thảo viết tay khi tôi chạm vào tuổi 17, cái tuổi mà những rung động, trăn trở đều trong trẻo và vẹn nguyên nhất.

Vào mùa hè năm lớp 11, trong một cuộc hội ngộ thân thiết giữa những người anh kết nghĩa, tôi có nhờ một người trong số đó giúp tôi đánh máy hộ tập bản thảo thơ đầu tay, đặng in thành một cuốn sách hoàn chỉnh tiện cho việc gửi xin giấy phép ở nhà xuất bản. Thương quý tôi, người anh đó cầm bản thảo ra Đà Nẵng. Một sự cố hoàn toàn vô tình từ một sự tiện tay vô ý thức của người lạ ngay tại phòng trọ của anh, mở đầu cho một chương đầy thương tổn trong lòng tôi khi tập bản thảo đã "không cánh mà bay". Hụt hẫng và đau đớn. Nhưng tôi không thể trách cứ hay trút giận vào ai. Thái độ của tôi thay đổi hoàn toàn ngay sau đó. Mất đi "đứa con tinh thần" mà mình tâm huyết, tôi không còn cởi mở, mà chọn sống khép kín, thu hẹp không gian thơ của mình lại. Lặng lẽ viết, đọc và suy tư, chiêm nghiệm. Tuyệt đối không chia sẻ với ai, ngoài vòng tay cha mẹ. 

Mãi đến năm 2008, được người thân mở lời động viên tinh thần, tôi mới mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn mà mình đã dày công xây kín nhiều năm.

Đầu tiên là xuất bản tập thơ "Tình riêng", viết riêng cho một người đặc biệt của tôi. Tập thơ này chủ yếu lưu hành nội bộ làm kỷ niệm. Liên tiếp các năm 2011-2012-2013 sau đó, tôi liên tục xuất bản 3 tập thơ là Dấu chân Hầm Hô, Ngày không bọt và Phút 89 cho thoả nỗi khát khao.

Lại nói về buổi ra mắt tác giả tác phẩm với tư cách một nhà thơ, năm 2013, tôi đã chọn "Phút 89" để trình làng. Và nhanh chóng gây được sự chú ý khi tác phẩm này được một độc giả đến từ Phan Thiết đấu giá 15 triệu đồng cho cuốn độc bản khổ lớn, đồng thời số bản sách khổ nhỏ cũng nhận được sự ủng hộ lớn của nhiều người ngay tại thời điểm phát hành.

Với một nhà thơ trẻ đang ở độ tuổi sung sức nhất của nghề viết, khi đó, tôi được nhận xét là khá thành công. Chỉ trong một năm 2013, mà tôi vừa đoạt được giải B giải thưởng thơ trong cuộc thi sáng tác về ngành cao su Việt Nam; vừa có tác phẩm thơ được xét vào vòng chung khảo giải thưởng Hội nhà văn TP.HCM; và được kết nạp chính thức vào Hội Nhà văn TP.HCM với số phiếu tuyệt đối từ hội đồng chuyên môn và ban chấp hành nhiệm kỳ 2010-2015.

Về Quy Nhơn, tôi vui mừng khoe thành tích với cậu. Ánh mắt cậu không giấu nổi niềm xúc động. Vỗ nhẹ vai tôi, cậu cười nói: "Cháu gái của cậu khá đấy!"

Vậy là gia đình tôi chính thức có hai cậu cháu đều trở thành hội viên của Hội chuyên ngành văn học nghệ thuật tại hai địa phương. Cậu sinh hoạt ở Chi hội âm nhạc Bình Định, trực thuộc Hội văn học nghệ thuật Bình Định (nay là Gia Lai), còn tôi sinh hoạt ở Hội Nhà văn TP.HCM.

MINH ĐAN

(Còn tiếp - phần 2) 

 

Top